PES 2009. The Fraternity

Monday, November 24, 2008




Tháng 10 năm nay có một sự kiện đối với dân game thủ toàn thế giới, đặc biệt là các fans của dòng game thể thao. PES 2009 releases. Pro Evolution Soccer 2009. Trước khi ra đời, Konami đã hứa hẹn phiên bản mới này sẽ là một cải cách toàn diện mang tính đột phá về dòng game Bóng Đá. Quả đúng như vậy. Họ, hơn thế nữa, đã làm ra một kiệt tác.

Game đá bóng với tôi là một đam mê. Đã lâu lắm rồi mới lại có cái cảm giác khấp khởi lùng sục mạng tìm đường download về bản cài hơn 7 gb, rồi rùng mình sung sướng thử những trận đấu đầu tiên của thứ trò chơi được gọi là "thế hệ công nghệ mới - The next Generation". Konami đã không phụ lòng mong mỏi từng ngày của dân game thủ toàn cầu khi tung ra phiên bản PES 2009 này. Cách chơi cơ bản thì vẫn giữ nguyên. Các giải đấu vẫn vậy. Nhưng có một cái gì đó tuyệt vời hơn, một hơi thở mới đã được các nhà thiết kế của Konami thổi vào từng tiếng reo hò của cổ động viên, từng nét mặt của cầu thủ.

Đồ họa thì miễn bàn, các chuyển động của nhân vật mượt mà đến nỗi nhìn những bước chạy của Chris Ronaldo, Paul Scholes ta có thể cảm nhận được cái hơi thở gấp gáp và vẻ mệt mỏi của cơ bắp, nhưng cái nét uyển chuyển của đồ họa được làm kĩ ấy lại khiến các động tác trở nên tinh tế như một vũ điệu đầy vẻ tự nhiên. Triết lý bóng đá hoa mỹ và đậm chất Nam Mỹ là ở đây chứ ở đâu.

Ngoài điểm mạnh về đồ họa mịn màng, các nghệ nhân của Konami đã biến những sân cỏ thành những đấu trường thực sự. Đấu trường, nơi tồn tại cái Thắng và cái Bại. Nơi thăng hoa và chôn vùi cảm xúc. Hòa mình vào trận đấu, tôi từng reo hò sung sướng khi ghi bàn, và cũng chực vỡ òa khi bại trận. Cái lắc đầu buông xuôi của Ferdinand, cái vẻ bất lực tiếc nuối của Ronney, hay cái tột cùng hân hoan của Man trước bàn thắng muộn màng mà vô giá... tất cả, tất cả đều khiến người chơi có cảm giác chính mình là một thành viên trong số 22 người đang chạy theo trái bóng ở đằng kia. Tôi, và có lẽ cũng giống những game thủ PES 2009 khác, đều đang lặng lẽ và âm thầm nhấm nháp và san sẻ cái thành tích mà mình đạt được sau trận đấu, cùng mỗi cầu thủ.

Cái khác biệt cơ bản nhất giữa phiên bản PES 2009 với các phiên bản khác mà tôi dần dần cảm nhận được, đó là tính cộng đồng. Là tình đồng đội. Là friendship. Là fraternity. Nếu ở các phiên bản khác, sở hữu một cầu thủ giỏi với các chỉ số cao là bạn có thể biến hắn thành một hung thần sân cỏ. Một mình một bóng, hắn có thể dốc hùng hục hai biên, cũng như lao thẳng vào vòng cấm địa nhờ Stamina và Technique cao. Điều này không tồn tại ở PES 2009. Một cầu thủ giỏi, một chỉ số tốt, đó chưa đủ để tạo nên một trận đấu, và một bàn thắng. Konami đã kéo các cầu thủ lại gần nhau hơn khi tăng khả năng kèm người, phòng ngự cho mỗi nhân vật. Rất khó để dê dắt bóng qua quá 2 người, cũng như dốc bóng. Đẳng cấp giữa các cầu thủ được rút ngắn lại. Điều này phản ánh một hiện thực bóng đá bây giờ. Bóng đá đã mất vẻ hoa mỹ, đầy vẻ thực dụng, nhưng lại hiệu quả. Chiến thắng vẫn là mục tiêu số một. Vì vậy để chiến thắng, các cầu thủ phải biết phối hợp với đồng đội của mình.

Khi chơi chế độ Become a Legend, tính đồng đội thể hiện rõ ràng nhất. Không có cầu thủ nào giữ bóng quá 3s. Các đường chuyền ngắn được thực hiện liên tục đến chóng mặt. Then come the goals. That way. Fraternity là ở đó chứ đâu. Ngay cả cách chơi Become a Legend mà Konami cho vào game, cũng là một nỗ lực kéo các game thủ lại gần nhau, bởi kết quả sẽ được công bố thông qua mạng lưới (network). Tính cộng đồng là ở đó chứ đâu.

Cách chơi này của phiên bản PES 2009 bỗng nhiên mang cho tôi cái khoái cảm mới mẻ. Vì chuyền nhiều mà tốc độ trận đấu tăng gấp nhiều lần, buộc người chơi phải tập trung thật sự. Cảm xúc từ đó mà ra chứ ở đâu.

Phiên bản PES 2009 đã sửa lỗi áo trang phục cho các đội bóng. ManU không còn mang một màu áo nhợt nhạt vô hồn của PES 2008, mà là một màu đỏ tươi rực rỡ trên nền xanh của cỏ. Cái Tình Yêu bị thổi tắt trong nhiều năm dành cho Bóng đá và ManU bỗng nhiên được nhen nhóm trở lại. Và mỗi đêm lại có kẻ lặng lẽ cùng ManU ngồi thắp lửa cho một giấc mơ. UEFA Champions League.

Sự sôi động. Đó chính là cảm giác khi cầm trên tay một chiếc gamepad và tận hưởng không khí của PES 2009.

PS: PES 2009 đòi hỏi cấu hình khá cao. Sẽ là một sự đáng tiếc cho mỗi game thủ nếu chỉ chơi PES 2009 với options thấp về đồ họa. Bởi nét biểu cảm của cầu thủ sẽ bị nhòa đi rất nhiều.

Kauhava, 25/10/08.

My pride

Wednesday, October 1, 2008



Đây là ngăn 1 giá sách của tôi bên Fin này. Ngăn 2 là sách ngoại ngữ và chuyên ngành. Đối với du học sinh bình thường thì từng đó tiểu thuyết có lẽ cũng không dễ sưu tập. Cũng phải mất 3 lần đi đi về về Fin - Vie mới gom được từng ấy sách qua đây để nhâm nhi lúc buồn...

Phần lớn là tiểu thuyết Murakami và Banana, và một số truyện đang nổi ở các hàng sách Đinh Liệt. Trong laptop thì còn cỡ trăm mb Ebook các loại đang chờ in ra để đọc. Nghĩ cũng quí, năm đầu lơ ngơ sang đây chẳng mang gì nhiều ngoài mấy quyển truyện dài Nguyễn Nhật Ánh, sống cả năm chỉ đọc đi đọc lại từng ấy thứ vì tôi vốn ngại đọc Ebook trên máy. Hè rồi là lần thứ ba về Việt Nam, quyết tâm gom nhiều sách sang. 7 kg xách tay đều là sách cả. Thế là đủ cho một năm đọc. Riêng quyển Kafka trên bờ biển của ông chưa đọc, ước tính chắc hè rảnh mới nghiền xong trong một tháng nổi...

Hôm ra máy bay, quá kg nên đành bỏ lại cuốn Luật im lặng và quyển mấy quyển khác nữa, nghĩ mà tiếc.

Nhắc đến Nguyễn Nhật Ánh, ngăn sách tiểu thuyết và truyện trên còn thiếu chắc hơn chục quyển nữa. Lại phải đi gom đủ. Tiêu biểu là Tugumi đưa ông anh mượn chưa trả...

03:49 am -011008-
Kau, Fin.


For the Love of Cat

Monday, September 29, 2008




Con mèo ngủ, hai chân trước gập lại dưới mình, mặt vùi vào trong đuôi. Ban đầu nó còn kêu rừ rừ to, sau đó nhỏ dần, cho tới khi hoàn toàn chìm vào giấc ngủ lặng êm, mọi sự phòng thủ đều hạ xuống. Tôi ngồi ở một chỗ nắng trên hàng hiên, khẽ vuốt ve để không làm nó thức giấc. Lâu lắm rồi tôi mới lại nghĩ tới sự gần gũi mềm mại, ấm áp đặc biệt của con mèo. Quá nhiều chuyện đã xảy ra với tôi đến nỗi hầu như tôi quên bẵng rằng con mèo đã đi mất. Song giờ đây, ôm trong lòng cái sinh linh mềm mại bé nhỏ này, thấy nó say sưa ngủ một cách hoàn toàn tin cậy ở tôi, tôi nghe một nỗi ấm áp tràn lên ngực. Tôi đặt tay lên ngực con mèo, cảm thấy tim nó đập. Mạch yếu và nhanh, nhưng tim nó, cũng như tim tôi, đang cần mẫn đếm lượng thời gian mà cơ thể nhỏ bé của nó được chia phần với toàn bộ nỗi đau đáu không yên của tim tôi.

Con mèo đã đi đâu suốt năm qua? Nó đã làm gì? Sao nó lại chọn đúng lúc này để trở về, hoàn toàn đột ngột? Những dấu vết thời gian mà nó đã đánh mất ở đâu? Ước gì tôi có thể hỏi nó những câu hỏi đó. Giá như nó trả lời cho tôi được!

...

Tôi tháo một tấm rèm khỏi cửa sổ rồi đặt con mèo lên. Nó mềm oặt như một súc quần áo mới giặt. Khi tôi nhấc nó lên, khe mắt nó hơi hé mở, mí mắt nhếch lên, nó khẽ mở miệng nhưng không phát ra một tiếng nào. Nó mềm oặt như một súc quần áo mới giặt. Khi tôi nhấc nó lên, khe mắt nó hơi hé mở, mí mắt nhếch lên, nó khẽ mở miệng nhưng không phát ra một tiếng nào. Nó sửa thế nằm trên tấm rèm cho thoải mái, ngáp rồi lại ngủ. Sau khi tin chắc rằng nó đã ngủ say, tôi xuống bếp soạn mấy thứ đồ ăn đã mua ra. Tôi đặt chỗ đậu phụ, rau và cá vào từng ngăn trong tủ lạnh rồi lại liếc ra ngoài hiên. Con mèo vẫn ngủ ở nguyên vị trí. Vợ chồng tôi lúc nào cũng gọi nó là Wataya Noboru bởi cái nhìn trong mắt nó giống như của ông anh trai Kumiko, nhưng đó chỉ là mộ trò đùa nho nhỏ của chúng tôi chứ không phải tên thật của con mèo. Thật ra, chúng tôi nuôi nó đã được sáu năm mà chẳng hề đặt tên cho nó.

Song, dẫu là trò đùa đi nữa thì cái tên Wataya Noboru cũng không hợp với con mèo của chúng tôi. Trong vòng sáu năm đó kẻ mang cái tên này đã trở thành một nhân vật quá ư tầm cỡ, nhất là từ khi y được bầu vào Hạ viện. Nhất định không thể nào gán cái tên đó cho con mèo mãi. Chừng nào nó còn ở trong cái nhà này, cần phải đặt cho nó một cái tên mới, một cái tên riêng của nó, càng sớm càng tốt. Đó nên là một cái tên giản dị, cụ thể, dễ hiểu, một cái tên khả dĩ gột sạch được hết mọi âm thanh, ký ức và ý nghĩa của cái tên Wataya Noboru.

Tôi mang cái đĩa mèo ăn vào nhà. Đĩa sạch bóng như thể vừa được lau rửa xong. Con mèo hẳn đã ăn ngon lành lắm. Tôi thấy vui vì đã tình cờ mua ít cá thu đúng lúc con mèo trở về. Đó dường như là một điềm lành, cho cả tôi lẫn con mèo. Ừ phải, tôi sẽ gọi nó là Cá thu. Vừa vuốt ve nó ở sau tai, tôi vừa thông báo cho nó: “Từ nay chú mày không phải là Wataya Noburo nữa”, tôi nói. “Từ nay tên mày là Cá thu”. Tôi muốn hét to lên vậy với toàn thế giới.

Tôi ngồi ngoài hiên bên con mèo Cá thu mà đọc sách tới khi mặt trời bắt đầu lặn. Con mèo ngủ li bì như bị ai đó đánh cho bất tỉnh, hơi thở êm nhẹ của nó như một cái bễ lò rèn ở xa xăm, mình nó phập phồng theo âm thanh đó. Thỉnh thoảng tôi lại với tay sang để cảm nhận hơi ấm của nó và biết chắc rằng con mèo đang thực sự nằm kia. Thật tuyệt khi có thể làm như vậy: với tay ta chạm vào một cái gì đó, cảm thấy một cái gì đó ấm áp. Tôi đang mất dần cái cảm giác này.

...


Bộ truyện nặng kí của ông, có người thích, có người không. Có người tán thưởng. Có người chỉ trích. Tôi thích Biên niên ký Chim vặn dây cót vì rất nhiều thứ: Nội dung, nhân vật, ẩn dụ... Nhưng trên hết, những đoạn văn nồng nàn tình cảm như trên của ông làm tôi say mê hơn hết thảy. Tình yêu dành cho Mèo.

Tôi nhớ đến thành viên thứ năm trong gia đình tôi. Mimi. 15 year-old-lady-cat. Tôi nhớ nó. Hình như giữa tháng 4 năm trước thì phải, nó chết ở tuổi 15. Khi tôi còn đang ở nước ngoài du học. Nó chết, trong tôi cũng chết đi một thứ. Tình Yêu dành cho Mèo.

Sau khi nó chết, tôi cũng mất luôn cái cảm giác yêu thương và khoan khoái khi nhìn thấy một con Mèo. Mười lăm năm. Sống với tôi trong mười lăm năm, từ khi tôi vào lớp Một. Tình cảm dành cho nó thì rất nhiều, một người bạn từ thời thơ ấu đến khi trưởng thành ấy chứ. Nên khi nó chết, tôi đã có một thời gian dài, rất dài, khó khăn và nặng nề để có thể âu yếm vuốt ve một con Mèo khác. Tôi từng nghĩ, có lẽ tôi không thể yêu một con Mèo nào khác, ngoài nó. Và tôi biết tôi nghĩ đúng. Hơn một năm qua, mẹ tôi biết tôi buồn nên nuôi thêm vài con Mèo khác, nhưng tôi không thực sự chơi cùng chúng lắm.



Sang bên này, cuộc sống đôi lúc nhàm chán, tự nhiên thèm có một con Mèo để làm bạn. So does my girlfriend. Tìm mãi mới thấy có một quí bà đang muốn tặng mèo con. Khấp khởi mừng và liên lạc với bà ấy để xin. Sau nhiều thủ tục thì cũng ring được nó về. His name is Bi.

Chưa thể nói nhiều rằng Bi sẽ gắn bó với chúng tôi bao lâu, vài tháng hay vài năm, nhưng đây sẽ là một sự hồi sinh mới trong tình cảm. Hi vọng thế. No need to keep the past for long.

#1


#2


#3


4#


#5


#6


#7


#8


#9


#10


10:32 - 300908 -
Kauhava, Finland

Norwegian Wood becomes a movie?

Wednesday, August 6, 2008




Mấy hôm nay, cư dân điện ảnh mạng xôn xao vì tin này: A French-Vietnamese director Tran Anh Hung bringing Murakami’s NORWEGIAN WOOD to the big screen. Mới nghe đã thấy thú vị. Rừng NaUy được dựng thành phim? Cái khoái cảm của hai năm trước khi lần đầu tiên đọc cuốn tiểu thuyết trứ danh của ông làm dậy lên trong tôi niềm thôi thúc muốn viết một cái gì đó. Not a review, simply a speech.

Du Tử Lê trong một bài phỏng vấn bởi trung tâm âm nhạc Thúy Nga đã từng tâm sự: "Khi bài thơ được gắn thêm phần âm nhạc, nó có thêm một đôi cánh khác nữa ngoài đôi cánh tự thân của nó là Thi ca, và nó sẽ đi xa hơn". Yeap, người nhạc sĩ lúc này đóng vai trò thổi giai điệu vào con chữ, chắp cánh cho hồn thơ bay bổng hơn, đi xa hơn. Chiếu theo đó, việc đưa một tiểu thuyết lên màn ảnh, ở một chừng mực nào đó, cũng tương đồng với việc phổ nhạc cho một bài thơ. Hơn 300 bài nhạc phổ từ thơ của Du Tử Lê, số bài nghe được không quá nhiều, số bài thuộc hàng tuyệt phẩm lại càng ít nữa. Người làm cái công việc của một middle-man đưa tác phẩm gốc một cái hồn mới (cả thơ lẫn tiểu thuyết) tới khán, thính giả thường mắc phải cái lỗi là họ tự ý cho mình cái quyền sáng tạo, thay đổi chút chút nội dung gốc đi, để tạo ra một sản phẩm có-chút-gì-đó-của-mình-trên-nền-một-cái-gì-đó-của-người-khác. Nếu sản phẩm làm ra thành công, họ có quyền hãnh diện tuyên bố: "Tuyệt tác đó là của tôi!". Gọi nôm na, là gặt hái thành công trên sự vinh quang của người khác.

That's fine. Tốt thôi, chuyện sẽ chẳng có gì. But...

He is Murakami and that novel is Norwegian Wood, he he...

Việc dựng phim cuốn tiểu thuyết này, tính sơ ra đã thấy mấy điểm khó khăn cơ bản để quyết định tính thành bại của người đạo diễn:

Trước hết là về casting. Văn của Murakami có thiên hướng cực kì tỉ mẩn và kĩ tính trong việc phác họa chân dung nhân vật. Từng dáng đi, nét mặt, cử chỉ đến chi tiết về kiểu tóc, dung nhan, trang phục... đều được ông tỉ mỉ kể lại cho người đọc. Có cảm giác như ông đang tạc lại từ một người thật cái nhân vật mà ông viết đến. Thế nên cứ đọc văn của ông, trong đầu tôi hiện lên rõ ràng và chi tiết nhiều nhất có thể dung mạo một nhân vật là như thế nào. Naoko là phải thế này, Kizuki là phải thế kia... đại khái thế. Và tôi chắc bất kì độc giả nào có dịp nghiềm ngẫm tiểu thuyết của ông đều có chung cái phác họa chân dung nhân vật như thế. Khâu casting cho bộ phim này khó khăn là vậy. Cái ấn tượng đầu tiên về diễn viên mà đã gây thất vọng, thì khó có thể giữ chân người xem đến tận scene bấm máy cuối cùng. Cứ thử tưởng tượng xem, nàng Naoko yếu đuối mỏng manh là vậy mà do một cô gái cao ráo chân dài, chải chuốt và xinh như búp bê thủ vai, e rằng hơi khó nuốt. Naoko's beauty, is not that simple.

Trong cuốn tiểu thuyết này, tôi thấy ngoài Naoko ra, còn một nhân vật nữa là một thử thách thực sự cho đoàn làm phim. Đó chính là nhân vật cô học trò của Reiko. Cái con bé điển hình cho tính hoàn mỹ đến cực cùng của Murakami. Chọn được một nữ diễn viên mười mấy tuổi đầu biết diễn đã khó, mà làm thế nào để lột tả được cái nội tâm ghê gớm khiến người đọc phải rùng mình ớn lạnh như trong văn của ông, lại còn khó khăn gấp vạn. Trần Anh Hùng, ông cũng tuyên bố muốn thử thách mình, okie vậy đây sẽ là một trong những cái khó khăn nhỏ bé nhất ông cần và nên vượt qua, khi tiến hành làm bộ phim mới này.

Thử thách sơ bộ thứ hai, là cấu trúc bộ phim. Thường thì khi các nhà làm phim dựa trên nền tảng một cuốn tiểu thuyết hay câu truyện nào đó, sẽ bỏ đi ít nhiều chi tiết, hoặc tệ hơn, thay đổi cả cái bối cảnh không gian - thời gian đầy ẩn ý của tác giả, để che đậy cái sự yếu kém của mình khi không-thể-bám-theo-nguyên-mẫu, vốn dĩ là một điều không-thể-tránh-khỏi. Nói ngắn gọn là giữ cái xương sống cho tác phẩm gốc, thay đổi chút xương vụn xung quanh. Thật ra điều này cũng dễ thông cảm thôi vì một tiểu thuyết - hay một bài thơ, khi được chuyển sang môi trường mới (phổ nhạc - dựng phim), sẽ ít nhiều có một thứ gì đó bên trong nó mất đi. Người nhạc sĩ hay người đạo diễn cần khéo léo hạn chế những lỗi này để biến cái thay đổi đó thành hợp lí và chấp nhận được, dựa trên tinh thần tôn trọng tác giả. Quan trọng hơn, là tôn trọng độc giả. Nhất là những độc giả khó tính và kĩ tính, tôi e rằng họ khó lòng chấp nhận một Rừng NaUy bị giày xé và thiêu đốt tạm nham, chắp vá lộn xộn thành một khu vườn thảm thương.

Tốt hơn hết là Trần Anh Hùng nên bám sát cái khung cảnh thời gian - không gian và bối cảnh của truyện, vì chúng là chuẩn rồi. Thế thôi.

Thứ ba nữa, là một lí do vô cùng giản đơn mà cũng cực kì cay đắng. The novel Norwegian Wood is not suitable for being a movie. Or I can say, Murakami's style of literature is not suitable to be expressed by cinema. Văn của Murakami hướng về nội tâm, về mọi địa tầng cảm xúc của con người, thật khó mà chuyển thể được những thứ trong sâu thẳm tâm hồn lên trên một bộ mặt diễn viên, dù rằng anh ấy/cô ấy có khả năng diễn xuất đến đâu đi nữa. Văn của Murakami là để đọc. Only for reading. Just for reading. Là để suy ngẫm. Và để tưởng tượng. Không cần thiết phải hiện thực hóa những câu truyện ấy bằng hình ảnh trần trụi. That's it.

Có lẽ chính ông là người dự cảm được điều đó hơn ai hết, nên từ trước đến nay ông mới chỉ nhận lời cho chuyển thể một tác phẩm văn học của ông, lại là một truyện ngắn trong vô vàn những câu truyện kể. Hình như Trần Anh Hùng dành được ở ông một sự ưu ái hơn lớn chăng?

Các khó khăn khác nữa để xây dựng bộ phim chuyển thể này nữa thì nhiều, ví dụ như những cảnh sex trong truyện chẳng hạn. How to make it as good as Murakami has done? Hay yếu tố âm nhạc được ông gài vào truyện đầy ẩn ý có được thể hiện đủ mạnh và tinh tế qua bộ phim hay không? Nhưng thôi, tạm không bàn đến vấn đề này nữa, đó là việc của đoàn làm phim. They should face those threats themselves. Can they successfully overcome?

Thật ra, Google tìm hiểu cái anh chàng đạo diễn hơn 40 tuổi này, cũng thấy một vài điểm thú vị. Thứ nhất, Hùng có sở trường về các bộ phim với bối cảnh thời gian cũ, cách đây vài chục năm, khá trùng hợp với không gian của Rừng NaUy. Thứ hai, dưới tư cách là một độc giả, hẳn ở Hùng phải có ít nhiều đồng cảm với cuốn tiểu thuyết kia mới có thể liều lĩnh ra quyết định dựng phim này. Thứ ba, nhiều báo chí ca ngợi cái nhạy cảm của Hùng ở việc ứng dụng âm nhạc vào phim ảnh. Điển hình là bộ phim Cyclo. Nhạc cảm, đây là yếu tố quan trọng để một người đạo diễn có thể đồng vọng với một nhà văn như Murakami. Thứ tư, trưởng thành ở Pháp, cái nôi nghệ thuật của thế giới, trong dòng máu và tinh thần của Hùng, biết đâu đấy, có chút gì tương đồng với tư tưởng của Murakami, chống đối với văn hóa truyền thống, ưa thích đặc biệt với văn hóa ngoại lai và luôn tìm tòi con đường đi riêng cho mình.

Dù thế nào đi nữa, vẫn phải trở lại với quan điểm của họa sĩ-nhà thơ Tạ Tỵ, ông cho biết ông hoàn toàn không thích các ca khúc phổ thơ. Ông cho rằng nhạc điệu đã huỷ hoại, thậm chí giết chết hồn thơ. Du Tử Lê cũng đồng lòng với quan điểm này. Ông chia những nhạc sĩ phổ nhạc thành ba loại: Nhạc sĩ nhận tiền của những người làm thơ để phổ nhạc - nhạc sĩ giết chết hồn thơ - và những nhạc sĩ chắp thêm đôi cánh cho hồn thơ. Tự bản thân mình, Du Tử Lê cũng thừa nhận ông đã bị giết chết nhiều lần.

Tự bản thân mình, tôi cũng không hề mong đợi một điều gì ở bộ phim này.

Biết đâu đấy, Trần Anh Hùng đang và sẽ giết chết Murakami?

Ha ha, who know...?

Hà Nội, 11:29 am
07082008

Night of music

Sunday, July 27, 2008

Ơn Em thơ dại từ trời
Theo ta xuống biển vớ
t đời ta trôi

Tôi thích kết thúc một ngày trong bản Đêm nằm mơ phố - Nghi Văn hát, và bắt đầu một ngày mới bằng At any time của Ai Kawashima. Đêm nằm mơ phố, chỉ có thể hay, đối với tôi, khi nghe ở Hà Nội.

Đêm nằm mơ phố, bài hát này nó gợi cho tôi nhiều nỗi nhớ. Trong quãng thời gian xa nước, tôi ít khi tìm đến với nó, bởi tôi sợ khi nghe lại cái giọng hát u buồn ấy, nỗi nhớ nhà sẽ hành hạ tôi khủng khiếp. Nỗi nhớ của những con phố đêm, góc quán nhỏ và một ánh mắt nhìn. Những câu chuyện buồn của tuổi trẻ cứ đi qua mỗi lời ca để xoa dịu hộ tôi, để rồi sau tất cả, chúng biến thành những kỉ niệm đẹp của đời người. Phải, tuổi trẻ là tuổi phải và cần nhớ. Kỉ niệm luôn đi theo tôi, dù buồn hay vui. Như một vết thương chẳng thể lành sẹo.

Âm nhạc Việt, tôi đã từng viết nháp một bài thật dài về nó. Viết được một nửa thì mất hứng. Giới trẻ, những người bạn bè của tôi, thế hệ của tôi, nhiều người trong số họ đã thẳng thừng quay lưng lại với nhạc Việt. Đơn giản bởi vì âm nhạc Việt bây giờ không còn đáng nghe so với sự hấp dẫn của âm nhạc nước ngoài. Người trẻ không còn cảm thấy rung động, thậm chí họ còn thấy xa lạ với âm nhạc nước nhà hiện nay. Họ không tìm thấy ý nghĩa của bài hát qua những lời ca. Họ tìm được sự đồng cảm bởi ca từ và giai điệu ngoại lai. Cố nhiên, họ đúng. Chính tôi cũng ham mê vô cùng với một vài trường phái nhạc quốc tế. Có điều, tôi khác họ ở chỗ tôi vẫn gắn bó với nhạc Việt.

Thậm chí, càng ngày tôi càng gắn bó khăng khít với nhạc Việt. Gắn bó không thể tách rời. Nó trở thành một phần của một ngày của tôi. Nói như nhiều người, a part of my life. Nhưng đó là âm nhạc Việt mà người ta vẫn gọi là Tân nhạc. Nhạc Đỏ. Nhạc Vàng. Nhạc Tiền chiến. Vân vân và vân vân. Tôi thích nền Tân nhạc Việt Nam từ 1920 đến 1980, hoặc đầu 90s. Tôi thích các nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, thích Trầm Tử Thiêng, Vũ Thành An, Từ Công Phục, Trần Duy Đức, Đặng Thế Phong, Cung Tiến. Với riêng cụ Phạm Duy, tôi thích một phần nhỏ trong số tài sản hơn một nghìn ca khúc của ông. Tôi thích Anh Ngọc, Sỹ Phú, Thái Thanh, Ánh Tuyết, Tuấn Ngọc, Ngọc Hạ, Julie... Những danh ca lừng lẫy một thời ở hòn ngọc Á Đông, và nay là ở quận Cam (California).

Có thể nói, một trong những hạnh ngộ lớn nhất trong con đường nghe nhạc của tôi là được biết đến nền Tân nhạc Việt Nam thời ấy. Cái hạnh ngộ lớn lao đó sẽ còn đi theo tôi trên những chặng đường phía trước. Nhạc Việt xưa như một dòng chảy âm thầm trong lòng đại dương mà ta thì đang ở chênh vênh giữa biển cả. Bắt gặp được dòng chảy nồng ấm ấy như cái phao cu sinh đưa ta trở lại về đất liền. Có phải chăng vì tôi đang sống xa nhà, nên tôi yêu mến dòng nhạc ấy, như mt cách để tìm về nguồn cội?

Chỉ biết rằng, mỗi khi lắng nghe những bài ca của thời ấy, tôi thấy cả những đau thương và mất mát, những trằn trọc và băn khoăn của một thế hệ vàng son nghệ sĩ trong cảnh ly loạn. Đó là cái thời mà âm nhạc Việt thăng hoa nhất, là cái thời đã sản sinh ra không biết bao nhiêu tinh hoa, bao nhiêu thế hệ nhạc sĩ - ca sĩ trở thành tượng đài của nền âm nhạc Việt từ trước đến nay. Chính họ, mới đáng để người ta nhớ đến. Chính họ, mới đáng để người ta tôn sùng. Chính họ, mới đáng để người ta nghẹn ngào và thổn thức trước những bài ca, để rùng mình cảm nhận cái ưu mỹ của ngôn từ Việt trong từng ca từ nốt nhạc...

Mang ơn Em trao tình một lần, là kỷ niệm dù không đầm ấm
Mang ơn Em đau khổ thật đầy, là nắng vàng dù nhốt trong mây


Hà Nội, 28/07/08
03:43 am

Cocktail

Tuesday, July 8, 2008




Shimamoto-san uống hết ly Daiquiri, đặt nó xuống mặt quầy, gọi người phục vụ. Rồi hỏi tôi:
- Cậu thử nói xem nào, có loại Cocktail đặc biệt của nhà hàng không?
- Có chứ, có vài loại độc đáo lắm. Nổi tiếng nhất là loại mang tên quán, cocktail Robin's Nest. Chính tớ đã nghĩ ra đấy. Pha từ rượu rum và vodka. Uống ngon lắm, nhưng khá nặng.
- Chắc là tuyệt để quyến rũ các cô gái.
- Có vẻ cậu không biết, nhưng cocktail sinh ra là để làm chuyện đó đấy
Cô cười.
- Thế thì tớ muốn uống một cốc.


Dạo gần đây, tôi thường thích ngồi ở một quán nào đó giữa Hà Nội, nhấm nháp một ly Cocktail và đọc sách, nghe nhạc, nói chuyện phiếm với vài người bạn. Cái thức uống mix từ rượu và đủ thứ nguyên liệu khác ấy nó làm tôi liên tưởng đến quyển tiểu thuyết ngắn của ông, South of the border - North of the Sun.

Thời báo Boston Globe của Massachusetts comments một câu giản dị ngay bìa sách, "cuốn tiểu thuyết cảm động sâu sắc nhất". Khỏi phải nói cũng biết, đây hẳn là một tiểu thuyết lãng mạn, thậm chí ngọt ngào. Cái ngọt ngào óng ánh của thứ chất lỏng mang mùi vị pha trộn từ rum và vodka. Cái ngọt ngào của hòai niệm lung linh thuở thiếu thời. Và cái ngọt ngào của ánh nến, của ánh đèn ấm áp, của không gian trìu mến nơi góc quán nhỏ, trong lòng người, và trong thoang thoảng bản tình ca Star-crossed Lovers khẽ hát...

Trong một lần trả lời phỏng vấn, ông có nói:

When I write about someone eating a cucumber or drinking beer, I want the reader to feel that they want to eat a cucumber or go to the refrigerator for a beer. And the same when I write about sex...

Cái ý đồ đó của ông thật sự thành công, ít nhất là trong quyển tiểu thuyết này. Cocktail và Âm nhạc. South of the border, North of the Sun chính là một ly Cocktail hảo hạng ngọt ngào được pha bởi một tay bartender điêu luyện. Còn âm nhạc là thứ dư vị tinh túy sau chót thêm vào để hoàn thiện nốt cái sự ưu mỹ của ly Cocktail ấy. Chỉ có thể ngồi lặng im dưới ánh đèn vàng, lắng nghe người nhạc công đang trút cả hồn lẫn xác vào cây đàn dương cầm, bên cạnh ta đây là người đàn bà thất lạc mà ta thầm yêu thương suốt từ thời thơ ấu đến giờ, đang mơ màng quyến rũ bên một ly Cocktail, mắt nhìn ta đắm đuối. Tình tiết trong cuốn tiểu thuyết thì nhiều và đan xen, nhưng tựu chung lại thì cái ý niệm sâu thẳm nhất không nằm ngoài khoảnh khắc mơn man ấy. Cái mơn man của Tình Yêu nồng nàn ông vẽ ra làm ta chất ngất, làm ta say mê. Murakami, ông hẳn phải kì vọng rất nhiều vào quyển tiểu thuyết này, và hẳn ông đã cố gắng tạo nên một hình mẫu hòan mỹ về người đàn bà trong lòng ông đấy nhỉ?

Shimamoto-san, liệu nàng có phải là hiện thân của sự hòan mỹ hóa?

Ấy thế mà tôi vẫn chẳng thể yêu nàng bằng Naoko. Ở Naoko có cái mỏng manh yếu đuối, cần che chở. Tôi cũng chẳng thể yêu nàng như yêu Kano Creta. Ở Kano Creta có cái thuần khiết ưu tư. Nàng thì khác. Nàng có cái gần gụi thương yêu của một người bạn và cái cám dỗ mãnh liệt của một người tình. Nàng sang trọng quá. Mọi thứ của nàng đều đẹp, đẹp đến vô cùng. Toru đã từng chạm được đến một nơi nào đó trong sâu thẳm tâm hồn của Naoko. Còn nàng? Cũng như Murakami, cũng như Kajime, với tôi, nàng xa vời quá. Ngay gần bên cạnh mà mãi không sao với tới...

Cuốn tiểu thuyết này nhẹ nhàng hơn Rừng NaUy, ít đồ sộ hơn Biên niên ký chim vặn dây cót, nhưng không hề đơn giản. Tôi vẫn thường tự hỏi vì đâu người ta chỉ hay nhắc nhiều đến những tác phẩm dài hơi của ông mà bỏ quên đi một ly Cocktail ngọt ngào như vậy nhỉ?

Tôi vốn không uống được rượu. Nhưng cocktail thì có thể. Cái dư vị cồn bị giảm đi bởi ice cubes, bởi các loại cherry và bởi cách pha chế hỗn tạp bỗng nhiên trở nên lôi cuốn. Sex on the beach is my most favourite now. Then B52. Cái vị tươi mát của hoa quả thẩm thấu trước tiên vào vị giác, để rồi cái hơi nồng của vị rượu cứ ngầm ngầm tan chảy trong miệng, bốc lên cánh mũi khiến ta lâng lâng khoan khoái. Tê tê nơi đầu môi và ngất ngây trong đầu lưỡi. Lúc đó âm nhạc bên tai lại vỗ về, và ở cạnh ta là người bạn đang san sẻ cùng ta cái cảm giác thăng hoa đấy. Cái cuộc đời phù du này cũng đôi lúc đáng sống lắm chứ?

Viết trên nền bản tình ca It's easy to remember, Dean Martin

I hear you whisper I always love you
I know it's over and yet
It's easy to remember but oh so hard to forget
So I must dream to have your hand caress me fingers press me tight
I'd rather dream than have that lonely feeling stealing through the night
Each little moment is clear before me
And though it brings me regret
It's easy to remember but so hard to forget
Hà Nội, 080707, 03:28 pm.

21th Birthday

Saturday, July 5, 2008

060701987 - 06072008. 21 tuổi. Có thể nói sinh nhật năm nay của mình là sinh nhật vui nhất trong 3 năm gần đây. Tổng kết lại một lượt nhỉ ?

  • Một bữa tụ tập bạn bè cấp III vui vẻ sau một năm xa cách chúng nó. Friendship is what you can not and should not be lack of.
  • Một bữa cơm gia đình thân mật. Family is where you call Home sweet Home.
  • Một buổi tối ở nhà Pé yêu đầm ấm bất ngờ. In the mood for Love.
  • Một buổi đi ăn ở nhà hàng Nhật với Japanese food không-nên-ngon-đến-như-thế, sau đó thì ngồi ở một quán đẹp nhấm nháp Cocktail, nghe nhạc và tâm sự bạn bè với thằng bạn thân mười hai năm cùng cô bạn Tsubaki đáng mến hehe. Nhã đến thế là cùng. Friend is what you want and close friend is what you really need.
  • Một lời chúc sinh nhật sớm nhất trong ngày. Sweet and tender.
  • Một tin nhắn chúc sinh nhật trong cơn mơ màng giấc mộng hehe. Surprisingly nice.
  • Một chiếc áo mới từ người thứ hai mình sẽ gọi là “Mẹ” trong tương lai. My pleasant mother-in-law.
  • Hai hộp quà hand-made lung linh chứa đựng nhiều lời chúc và tình cảm sau suốt hơn hai năm thăng trầm. So cute for a Love affair.
  • Những offline và comments chúc mừng sinh nhật của bạn bè.

Và còn gì nữa nhỉ? Có lẽ thế là quá đủ với mình trong ngày sinh nhật này. Khác với tâm trạng u uất của năm ngoái, năm nay do đã biết enjoy the life hơn nên tâm trạng đón chờ ngày sinh nhật cũng bình thản hơn mọi khi. Nhưng mình cũng không chờ đợi một cái gì đó ngọt ngào đến như thế. Too much Love will kill you, ai đã nói thế nhỉ?

Dù sao, cái ý định tận hưởng nốt mùa hè cuối cùng ở Việt Nam sau mấy năm nữa mới về lại cũng không hề đáng thất vọng. Chính vì thế nên tôi xin cám ơn tất cả những người đã cho tôi không chỉ một mà là ba ngày vui liên tiếp như thế. You all make my day. Thanks all. Great love!

Tôi có một cuộc sống để tận hưởng và cống hiến, tôi có gia đình, bạn và bạn thân, người yêu và nhiều đam mê. Simply enough. Hình như tôi đang sống cái cuộc đời mà người ta gọi là Sweet Life?

Hà Nội, 060708, 11:12 pm.

Okada and Kano Creta, finally they found what they are short of...

Tuesday, June 24, 2008




For one who is going to be my Kano Creta, maybe.

Truyện thì hay. Chi tiết thì nhiều. Nhân vật cũng lắm. And I know, it is hard for everyone to fully follow. Nhưng gì thì gì, tôi cũng phải thừa nhận một điều. It is worth reading. Furthermore, it is worth being awarded a Nobel Prize, even he (Murakami) does not consider that much.

Okada có nghĩ thế này, “xung quanh tôi có hơi nhiều phụ nữ”. Lucky man? Not really, I think. Troubles thì đúng hơn. Cô bé Kasahara May vừa ngây thơ vừa già dặn. Nàng Kano Malta có tài tiên tri xuất hiện như một intermediary nửa gỡ nút thắt nửa trói buộc những tình tiết của truyện. Người phụ nữ bí hiểm qua điện thoại. A seductive lady who loves telephone sex. Không thể không kể đến cô nàng Kumiko. Run-away-wife. Và tất nhiên, most dazzling beautiful lady, Kano Creta. One who has three differently interactional alter ego.

Có lẽ sau Naoko và Shimamoto-chan, nàng là người tôi ấn tượng nhất trong các chuỗi nhân vật của Murakami. Nàng phức tạp hơn Midori, ít vẻ trang trọng quyến rũ hơn Shimamoto-chan, nhiều nồng nàn hơn Hatsumi. Nàng có ba bản thể. Bản thể nào dù khiếm khuyết đến đâu cũng đều có điểm chung, đó là cái cực cùng yếu đuối của con người. Yếu đuối một cách đau đớn. Yếu đuối một cách vô cảm. Yếu đuối của sự trống rỗng có ý thức. Nàng là hiện thân cho nỗi u buồn của chủ nghĩa hiện sinh.

Tình tiết được đẩy đến đỉnh điểm khi Okada và Kano Creta tìm thấy nhau. Và hai con người cô độc quyết định dấn thân. Okada, vừa trải qua cái trải nghiệm sâu thẳm tòan diện ở dưới giếng. Kano Creta, vừa trút bỏ cõi lòng nàng để tìm một điểm phân giới đặng đoạn tuyệt hòan tòan với sự ô uế của thân phận điếm tinh thần. And when two lonely souls melt into each other, they warm up themselves.

Bằng cách ngủ với ông, con người thực của ông, nhập thân thể mình vào thân thể ông trong thực tế, tôi muốn đi qua con người ông, con người gọi là Okada này. Có làm như vậy tôi mới mong thoát ra khỏi cảm giác bị ô uế ở bên trong tôi. Điểm phân giới là vậy đó.

Cách lý giải của Murakami thì đơn giản, riêng cái ý niệm sâu xa của ông thì hình như ai cũng một lần vướng phải và chật vật không biết cách thoát ra. Trong đời, có một người như Kano Creta có lẽ cũng là một ân sủng. Chỉ tiếc là con người ta có dám dấn thân vì chính mình đến thế hay không, khi những barriers về quy chuẩn đạo đức, về ràng buộc tình cảm, về trách nhiệm, về những thứ thuộc về code of conduct cứ bám riết và bủa vây lý trí. For sure, all of us are living a tired life but none of us wants/dares to break/escape it.

Linh bảo, “you suffer other’s needs while do not tent to pursue for your own”. I truly understand it. But nothing better I can do. I am the same with a normal person.

But now, if someone asks whether I dare to follow my own Kano Creta (if she randomly appears) or not.

I will say “Yes”.

Truly I am.

Hanoi, 03:42 pm, 24th June 2008
The Wind-Up Bird Chronicle Review, the 1st

 
ThieuVan - by Templates para novo blogger